GIOITHIEU.png
 

huyen_Kong_Chro.jpgHuyện Kông Chro được thành lập theo Quyết định số 96-HĐBT ngày 30-5-1988 của Hội đồng Bộ trưởng trên cơ sở chia tách từ phần đất phía nam của huyện An Khê,cách trung tâm thị xã An Khê khoảng 30 km. Huyện lỵ là thị trấn Kông Chro.
    Diện tích: 143.970 ha. 
    Dân số:    50.525 người (số liệu thống kê năm 2015).
    Mật độ dân số: 35,4 người/km2
    Vị trí địa lý:
        - Bắc giáp: huyện Đăk Pơ.
        - Nam giáp: huyện Ia Pa.
        - Đông giáp: tỉnh Bình Định.
        - Tây giáp: huyện Mang Yang.
    Đơn vị hành chính cấp xã, trị trấn: 14 (1 thị trấn, 13 xã)
        - Thị trấn Kông Chro.
        - Các xã: An Trung, Chơ Long, Chư Krey, Đăk Pling, Đăk Song, Đăk Tpang, Kông Yang, Sơ Ró, Ya Ma, Yang Nam, Yang Trung, Đăk Pơ Pho, Đăk Kơ Ning.
  * Tổng quan kinh tế - văn hoá - xã hội: 
1. Về phát triển kinh tế
1.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tổng sản phẩm trong huyện 3.632,34 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GTSX đạt trên 11,70% (Nghị quyết đề ra 10,5%), các chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp, dịch vụ được quan tâm thực hiện đã tác động lớn dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt và vượt so với Nghị quyết.
Tăng trưởng của khu vực nông lâm nghiệp có xu thế tăng cao do việc tập trung thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp: Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, cánh đồng lớn, có năng suất, chất lượng và sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Bước đầu hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với quy hoạch, theo hướng sản xuất hàng hóa, liên kết tiêu thị sản phẩm, nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả được áp dụng, nhân rộng. Ngành công nghiệp và xây dựng có xu hướng tăng trưởng chậm lại, nhất là lĩnh vực khai thác khoáng sản và đầu tư các nhà máy sản xuất điện. Lĩnh vực thương mại vả dịch vụ tiếp tục có tốc độ tăng cao do tác động của tăng trưởng của ngành nông nghiệp.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo xu hướng tích cực, cơ cấu ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện (45,79%), ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 33,61%, ngành dịch vụ chiếm 20,59%.
Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng bền vững: Cơ cấu cây trồng trong 3 năm tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, đã xác định được các cây trồng chủ lực đó là: Mía đường, ngô lai, mì cao sản. Đang tích cực tìm kiếm thị trường, xây dựng chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Chủ động liên kết với các nhà máy trên địa bàn tỉnh phát triển 1 số loại cây trồng mới có năng suất cao gắn với thị trường tiêu thụ như: Chuối hồng, Dứa, Chanh dây. Tiếp tục triển khai nhân rộng mô hình gieo trồng một số cây trồng có giá trị cao như: Quýt đường, Na dai, Thanh long, các loại rau quả... Tổng diện tích gieo trồng năm 2018 đạt 38.910,6 ha, đạt 102,5% so với Nghị quyết.
Trên địa bàn huyện có 01 Doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc áp dụng công nghệ cao với quy mô 1.500 con, tổng vốn đầu tư 20 tỷ đồng. Mô hình tưới nước tiết kiệm, trồng cây trong nhà lưới, nhà kính đã bước đầu được triển khai với diện tích trên 196,2 ha. Mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất mía được Nhà máy đường An Khê đầu tư trên địa bàn được thực hiện cơ giới hóa đồng bộ từ khâu làm đất đến trồng, chăm sóc và thu hoạch.
Các loại cây trồng đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung ở các loại cây trồng: mía gần 7.091 ha, mỳ cao sản trên 7.416 ha, ngô lai 10.307 ha, ngoài ra còn có một số loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế như bí đỏ, ớt, thanh long ruột đỏ, thanh long ruột trắng, quýt đường, na dai,…Tổng diện tích đã thực hiện mô hình cánh đồng lớn cây mía trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Kông Chro 245,9 ha/92 hộ/22cánh đồng/22 nhóm hộ.
Thường xuyên thực hiện công tác điều tra, nắm bắt tình hình sâu bệnh hại, ra thông báo cảnh báo ngay từ đầu vụ, đồng thời đề xuất các biện pháp chỉ đạo phòng trừ. Các dịch bệnh xảy ra cục bộ trên cây mía, chanh dây, mì, đậu xanh đã được phát hiện và xử lý kịp thời.
Chăn nuôi và thủy sản: Cuối năm 2018, tổng đàn gia súc 60.692 con đạt 108,3% NQ, bình quân mỗi năm tăng 4.300 con. Gồm đàn bò 38.234 con đạt 107,2% kế hoạch (Trong đó bò lai chiếm 37,3% đàn bò, tăng 2,3% so với NQ); đàn heo 12.376 con; đàn dê, ngựa 8.686 con; đàn trâu 1.396 con. Trong giai đoạn 2015-2018 tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn của huyện tương đối ổn định, một số dịch bệnh phát sinh đã được phát hiện và khống chế kịp thời, không để lan rộng.
Về thủy sản: Việc tận dụng các hồ thủy điện để nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản trên địa bàn huyện phát triển tương đối ổn định. Hiện tại trên địa bàn có khoảng hơn 400 ao, hồ thả cá diện tích 30 ha tập trung ở các xã Kông Yang, Yang Trung, An Trung và thị trấn Kông Chro và một số xã khác. Sản lượng khai thác, thu hoạch hàng năm đạt trên 85 tấn.
Về Lâm nghiệp: Tỷ lệ che phủ rừng lên 55,76%, công tác trồng rừng được quan tâm, diện tích trồng rừng không ngừng tăng từ kết quả việc quy hoạch lại 3 loại rừng, chính sách thu hồi đất lâm nghiệp để trồng rừng theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP và Quyết định 38/2016/QĐ-TTg của Chính phủ. bên cạnh đó Chính phủ quyết định đóng cửa rừng tự nhiên cùng với công tác quản lý bảo vệ rừng được tăng cường, do đó tỷ lệ che phủ của rừng đạt so với chỉ tiêu đề ra.
Tổng diện tích rừng trồng mới đến năm 2018 là 3.225 ha, trong đó nhân dân đầu tư trồng 1.844,3 ha; các Công ty lâm nghiệp trồng được 1.381 ha. Công tác giao khoán quản lý và bảo vệ rừng cho dân và cộng đồng được quan tâm hơn, thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ 6.986,52 ha rừng từ kinh phí DVMT rừng tại các xã Chư Krey, Đăk Pơ Pho, Đăk Song, Đăk Kơ Ning và Yang Nam. Đẩy mạnh hoạt động khuyến lâm theo hướng phát triển mô hình kinh tế vườn đồi, chú trọng công tác giống cây lâm nghiệp nhằm tạo điều kiện tăng thu nhập cho nghề trồng rừng.
Từ năm 2016-2018 đã xảy ra 208 vụ vi phạm Luật quản lý bảo vệ rừng, trong đó gồm: 19 vụ khai thác rừng, 187 vụ mua bán, cất giữ, vận chuyển lâm sản trái phép và 02 vụ vi phạm quy định bảo vệ rừng. Đã xử lý 208 vụ, trong đó xử lý hình sự 02 vụ, xử lý hành chính 206 vụ.
Về xây dựng Nông thôn mới: Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả quan trọng. Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG cấp huyện giai đoạn 2016-2020 đã được thành lập, củng cố; hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đã được triển khai kịp thời và đầy đủ. Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, tỉnh, huyện sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị các cấp, các ngành, đoàn thể và sự đồng tình của người dân. Từ đó phong trào xây dựng nông thôn mới tiếp tục có sự chuyển biến mạnh mẽ, ngày càng trở thành phong trào thi đua sâu rộng trong toàn huyện. Công tác tuyên truyền, đào tạo tập huấn được đẩy mạnh; các chương trình được lồng ghép để tập trung nguồn lực đầu tư thực hiện các tiêu chí gần đạt trong đó nâng cấp xây dựng đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương nội đồng; xây dựng các nhà sinh hoạt cộng đồng. tập trung xây dựng Làng kiểm mẫu nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay cơ bản đã hình thành làn kiểu mẫu nông thôn mới Hle - Hlang xã Yang Trung. Các nguồn vốn phân bổ đúng mục đích và nhanh chóng.
Đến thời điểm hiện nay có 01 xã đạt 13 tiêu chí là xã An Trung; 01 xã đạt 12 tiêu chí là xã Yang Trung; 02 xã 11 tiêu chí là Đăk Kơ Ning, SRó; 03xã đạt 10 tiêu chí là Yang Nam, Ya Ma, Chư krey; 02 xã 9 tiêu chí là Đăk Pơ Pho, Đăk Tơ Pang; 03 xã 8 tiêu chí là Đăk Pling, Kông Yang, Chơ Long; 01 xã 7 tiêu chí là Đăk Song. Trung bình mỗi xã đạt 9,7 tiêu chí, hiện đang tiếp tục rà soát các chỉ tiêu, dự ước đến cuối năm 2018 trung bình mỗi xã đạt 10,92 tiêu chí, tăng 34 tiêu chí so với cuối năm 2015 (trung bình mỗi năm tăng 11,3 tiêu chí). Phấn đấu đến cuối năm 2019 trung bình mỗi xã đạt 12,9 tiêu chí. Dự kiến đến năm 2020 phấn đấu tập trung đầu tư đưa xã Yang Trung đạt chuẩn nông thôn mới.
Trong giai đoạn 2015-2018, tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới là 401.961,2 triệu đồng bao gồm vốn lồng ghép 206.764,1 triệu; Vốn trực tiếp 65.725 triệu đồng; vốn tín dụng 92.181 triệu đồng. Ngoài ra, huyện còn tập trung huy động các nguồn lực từ các chương trình, dự án và đóng góp của nhân dân, các tổ chức, doanh nghiệp với tổng kinh phí 56.492,1 triệu đồng (vốn doanh nghiệp 7.465 triệu đồng; vốn nhân dân đóng góp 49.027,1 triệu đồng). Nhìn chung các nguồn vốn được sử dụng trên địa bàn huyện đã mang lại hiệu quả thiết thực.
Số hộ nghèo toàn huyện khu vực nông thôn cuối năm 2018 còn 3.439 hộ, chiếm tỉ lệ 30,16%, giảm 14,88% so với cuối năm 2016. Quan tâm hỗ trợ xây mới sữa chữa nhà ở cho hộ gia đình chính sách người có công, người nghèo khó khăn về nhà ở, đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 153 ngôi nhà với tổng kinh phí 7.465 triệu đồng từ nguồn hỗ trợ của các doanh nghiệp, các ngành, người dân. Nhiều cơ sở hành chính cấp xã, thôn được đầu tư nâng cấp đáp ứng nhu cầu làm việc cho cơ sở, tạo bộ mặt khang trang cho nông thôn mới. Đạt tiêu chí phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học (trung học phổ thông, bổ túc, trung cấp): 54,89%. Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo 19,86%. Đã kiến cố hóa (bê tông) 82,4% giao thông trục xã (200,66/234,5 km); 69,3% đường trục thôn, làng (6,32/9,12km). Cứng hóa đường ngõ xóm, nội đồng đạt 64,5% (176,67/287,34km). Về thủy lợi, 16 đập dâng và hồ chứa, với năng lực tưới 345 ha được kiến cố, cứng hóa đảm bảo phục vụ tưới tiêu. Hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp và mở rộng mạng lưới điện, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục, y tế và văn hóa được quan tâm đầu tư. Đến nay, có 8.645 hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ nguồn điện đạt 98,95%. Mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố và phát triển, tại 13 xã đã có trạm y tế hoạt động, phục vụ công tác khám, chữa bệnh ban đầu cho nhân dân. Phong trào thi đua xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới được gắn liền với phong trào thi đua xây dựng thôn, làng văn hóa; Phong trào thi đua xây dựng gương “người tốt, việc tốt”, Cuộc vận động “làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững”, cuộc vận động  “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”... đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân trong toàn huyện tích cực hưởng ứng tham gia. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 79,07%. Có 8.645 hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ nguồn điện đạt 98,95%. Có 7.194 hộ/8.560 hộ chiếm 84,04%, hộ dân của 13 xã được sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch có 2.170 hộ/8.508 hộ chiếm 25,5%. Tỷ lệ hộ dân nông thôn chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh có 1.321/5.934 hộ chiếm 22,26%. Tỷ lệ trạm y tế xã có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 100%. Tỷ lệ trường học (kể cả các điểm trường lẻ) có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 25%. Thu nhập bình quân cuối năm 2018 khu vực nông thôn 18,1 triệu/người/năm. Hiện tại trên địa bàn huyện có 07 hợp tác xã trên địa bàn 6 xã và trên địa bàn 3 xã được công nhận 3 trang trại nông nghiệp, chăn nuôi.
 
                       
Quá trình hình thành và Phát triển >> Cơ cấu tổ chức các đoàn thể >>
Lịch sử lãnh đạo qua các thời kỳ >> Chức năng - nhiệm vụ >>
Cơ cấu tổ chức Huyện ủy >> Các phòng ban chuyên môn >>
Cơ cấu tổ chức HĐND >> UBND các xã, thị trấn >>
Cơ cấu tổ chức UBND >> Hộp thư điện tử >>
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN

customer-service.png THÔNG TIN LIÊN HỆ:

1478004194_map-icon.png Địa chỉ: T
hị trấn Kông Chro - Huyện Kông Chro - Gia Lai
1490597482_Phone.png Điện thoại: (0269).3835365
1478004801_fax-(1).png  Fax: (0269).3835321
1478004004_Mail.png  Email: ubndkongchro@gialai.gov.vn
 
contract-(4).png THÔNG TIN BẢN QUYỀN:

Bản quyền thuộc về UBND huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai
Chịu trách nhiệm chính: Ông Ngô Hữu Luật - Chánh văn phòng HĐND-UBND huyện Kông Chro
Giấy phép số: 04/GP-TTĐT ngày 14/10/2013 của Sở Thông tin và Truyền thông
   Copyright © 2017 
Trang chủ | Tin tức Liên hệ | Mobile | Site map icontop.png